|
|
.
|
THIỀN
trong T̀NH YÊU và CÔNG VIỆC
Nguyên tác: Everyday Zen — Love & Work
Tác giả: Charlotte Joko Beck — Biên tập: Steve Smith
Dịch Việt: Lương Thanh B́nh |
|
 |
|
 |
Chương 5:
Đau khổ
Nỗi Khổ Đau có thật và
Đau khổ không thật.
Hôm qua tôi có ghé thăm một người bạn; bà vừa trăi qua một cuộc giải
phẩu lớn. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, tôi có hỏi bà là, cái ǵ là
một đề tài tốt cho một buổi pháp thoại, và bà đă cười rồi nói, “Kiên
nhẫn và Nỗi đau.” Bà nhận ra rằng, nó thật là thú vị. Những ngày ngay
sau khi cuộc thủ thuật hoàn tất, nỗi đau th́ rơ ràng (nơi đau và không
đau), sạch sẽ (giữa đau và không đau), sắc bén (giữa cảm giác đau và
không đau); ngoài ra không có vấn đề ǵ khác. Trong khi cơ thể dần dần
phục hồi, th́ tâm cũng bắt đầu hoạt động — và sự chịu dựng bắt đầu. Tất
cả sự suy nghĩ của bà, về những ǵ đă xảy ra, cũng từ từ kéo nhau về.
Một mặt của sự tu tập là, chúng ta ngồi không phải cho một mục đích ǵ
cả. Nhưng mặt kia th́, chúng ta muốn siêu thoát nỗi khổ đau. Không chỉ
thế, mà chúng ta c̣n muốn những người khác cũng vượt thoát đau khổ. Vậy
th́ quá rơ ràng là, điểm trọng yếu trong sự tu tập của chúng ta là để
t́m hiểu nỗi khổ đau là ǵ. Nếu chúng ta thật sự hiểu rơ “khổ đau” th́
chúng ta thấy được cách tu tập, không chỉ lúc ngồi thiền mà là trong mọi
lúc của cuộc đời c̣n lại. Chúng ta có thể hiểu đời sống hàng ngày của
ta và thấy rằng, nó thật ra không phải là vấn đề ǵ cả. Cách đây vài
tuần, có một người cho tôi một bài báo nói về nỗi khổ, và phần đầu của
nó cô động về ư nghĩa ngôn từ của “Khổ”. Tôi thấy hứng thú với những ư
nghĩa này; tự thân của chúng đă có tính cách giáo dục rồi.
Người viết bài báo này chỉ ra rằng, chữ “Khổ đau” (suffering) th́ dùng
để diễn tả nhiều thứ. Phần thứ hai của chữ, “fer” là bắt nguồn từ chữ
động từ Latin “ferre” có nghĩa là “mang mễnh”. C̣n phần đầu của chữ là
“suf” th́ bắt nguồn từ chữ “sub”, có nghĩa là phía dưới. Vậy có một cảm
giác trong cái từ, “ở phía dưới”, “mang mễnh phía dưới”, “tất cả ở phía
dưới” — “chịu đựng để chống đỡ cái ǵ từ phía dưới.”
Ngược lại, những từ ngữ như “sự đau đớn,” “nỗi buồn”, và “sự chán nản”
lại mang sức diễn tả gợi h́nh hơn, có tính cách nặng trĩu hơn vào con
người chúng ta. Sự thật, từ ngữ “nỗi buồn” bắt nguồn từ chữ Latin
“gravare” có nghĩa là “đè xuống.”
Cho nên có hai loại khổ. Một là loại, khi chúng ta cảm thấy như là,
chúng ta đang bị đè nén; như là nỗi khổ xâm lấn chúng ta từ bên ngoài,
như là chúng ta đang nhận một thứ ǵ đó như một h́nh phạt, làm cho ta
khổ đau. Loại kia là loại vi tế, nó hiện hữu từ bao giờ, và chúng ta
luôn luôn cưu mang nó (một là do điều kiện tạo ra và do ta cảm nhận ra
được; loại kia th́ ta mơ hồ về nó và đă có từ bao giờ). Sự khác biệt
trong hiểu biết về khổ là điểm quan trọng thiết yếu để hiểu sự tu tập
của chúng ta.
Tôi thỉnh thoảng phân biệt giữa “sự đau khổ” và “đau đớn”, nhưng bây giờ
tôi muốn dùng từ ngữ “sự đau khổ” và phân biệt ra giữa cái mà tôi gọi là
sự đau khổ không thật và sự đau khổ thật có. Hiểu biết được sự khác
nhau th́ rất ư là quan trọng. Nền tảng của sự tu tập, và Diệu đế thứ
nhất (Khổ Đế) trong Tứ diệu đế, là lời của đức Phật, “Đời sống là khổ
đau.” Ngài đă không nói, nó thỉnh thoảng khổ đau — mà là, cuộc sống là
khổ. Tôi muốn phân biệt giữa hai loại khổ này.
Thường khi người ta nói, “Tôi chắc chắn có thể thấy rằng, đời sống là
khổ đau khi mọi thứ không tốt xảy ra và không vui. Nhưng tôi thật sự
không hiểu ra được, khi cuộc sống đang trên đà suông sẽ và tôi cảm thấy
rất là vui vẽ (th́ đâu có khổ lúc này).” Khổ có nhiều cấp bực. Ví dụ,
khi chúng ta không có được một thứ ǵ ḿnh mong muốn, chúng ta đau khổ.
Nhưng khi chúng ta có được nó rồi, chúng ta cũng khổ. Bởi v́, chúng ta
biết rằng, nếu chúng ta có được th́ chúng ta cũng có thể mất đi. Không
cần biết chúng ta có sở hữu được nó hay là không; hay là nó có xảy ra
cho chúng ta hay không. Chúng ta khổ bởi v́ đời sống th́ luôn luôn đổi
thay (Vô thường). Chúng ta biết được chúng ta không thể nào bắt nắm măi
những điều tốt đẹp, và chúng ta cũng biết rằng, ngay khi lúc những điều
khổ đau của chúng ta biến mất, chúng cũng có thể vẫn sẽ trở lại với ta.
Từ ngữ “khổ đau” không cần thiết phải ám chỉ những kinh nghiệm to lớn đă
gây ấn tượng sâu sắc; ngay cả một ngày tốt đẹp nhất cũng không tránh
khỏi nỗi khổ đau. Ví dụ, bạn có thể đang có một buổi ăn sáng tuyệt vời
chưa từng có bao giờ — dù cho bạn đă từng tưởng tượng, bạn có thể vừa
gặp một người bạn mà bạn hằng mong muốn, hay bạn đi làm việc và mọi thứ
xảy ra thật là trôi chảy. Chưa từng có một ngày nào thật tốt đẹp như
ngày này; cho dù vậy, chúng ta biết rằng, trong những ngày sắp tới sự
việc có thể xảy ra hoàn toàn trái ngược. Cuộc sống không cho chúng ta
một sự bảo đăm nào cả; và cũng v́ chúng ta biết thế, chúng ta luôn luôn
cảm thấy không dễ chịu và bất an. Nếu chúng ta thật sự nghiên cứu hoàn
cảnh của chúng ta từ quan điểm chung, th́ đời sống là khổ đau, giống như
là một môi trường dùng để tạo ra đau khổ.
Bây giờ th́ bạn của tôi nhận biết được rằng, khi nào chỉ có cơn đau vật
lư th́ không có vấn đề ǵ mà phải bận ḷng. Từ phút giây bà ấy bắt đầu
có cảm nghĩ về cơn đau, th́ bà bắt đầu có cảm giác chịu đựng và t́nh
trạng khốn khổ phát sinh. Sự kiện này nhắc lại cho tôi nhớ đến lời nói
của thiền sư Hoàng Bá: “Cái tâm này không phải là tâm của tư tưởng khái
niệm và nó hoàn toàn không có thể dạng ǵ cả. Cho nên Phật tánh và
trạng thái khả năng cảm thọ vốn không khác. Nếu bạn có thể đưa tự thân
siêu thoát tư tưởng nhị nguyên, th́ bạn có thể liễu kết đại sự. Nhưng
nếu bạn vẫn c̣n một tơ hào tư tưởng khái niệm, th́ dù cho bạn có phấn
đấu bao nhiêu vạn kiếp, bạn cũng sẽ không bao giờ đạt được một kết quả
ǵ cả.”
Đó là sự vận hành của tâm, nó gầy dựng những giá trị khái niệm về mọi sự
kiện chung quanh chúng ta, và đó cũng chính là vấn đề. Thật ra không có
ǵ là sai đối với thực chất của khái niệm; nhưng khi nào chúng ta đem sự
phán xét của ḿnh về sự việc, gán lên cho nó, rồi mang nó gần với một
mẩu mực tuyệt đối nào đó (đúng hay sai). Khi tới đây, chúng ta lại chỉ
thấy có phần giá trị đúng/sai hay tốt/xấu mà ta gán cho, mà bỏ quên đi
phần thực chất khái niệm mà nó đă có; cho nên chúng ta đau khổ. Đó là
nỗi khổ đau không thật. “Thiên đường và địa ngục chỉ cách xa nhau có
một sợi tơ tằm.”
Cái điểm mà tôi muốn thêm vào nơi đây là, sự việc xảy ra như thế nào
cũng không có khác biệt ǵ: nó có thể không công bằng; nó có thể tàn
khốc. Tất cả chúng ta đều đă trăi qua những sự kiện không công bằng,
ghê gớm, tàn khốc; và theo chiều hướng chung, chúng ta nghĩ, “Thật là
không thể chịu đựng được!” Chúng ta phản kháng, chúng ta chống đối lại
sự việc. Chúng ta thử làm theo lời Shakespeare nói: “Để khống chế cả
hàng vạn vấn đề, chỉ bằng cách duy nhất là phản kháng để tiêu diệt
chúng.”
Dĩ nhiên, nó thật là tốt đẹp nếu nó có thể bị tiêu diệt “Cung và tên là
những vật không lành.” Ngày qua ngày, chúng ta chỉ gặp toàn là những sự
kiện bất công, và chúng ta cảm thấy rằng, phương pháp duy nhất để giải
quyết những công kích là phản kích; và đường lối chúng ta phản kháng là
bằng tâm của ḿnh. Chúng ta trang bị cho ḿnh bằng sự giận dữ của ḿnh,
quan điểm của ḿnh, sự tự cho ḿnh là đúng của ḿnh, giống như chúng ta
mặc vào một chiếc áo chống đạn. Rồi chúng ta nghĩ, đây là phương châm
để sống cuộc đời của ḿnh. Bằng tất cả những thứ này, chúng ta càng tạo
ra thêm sự phân cách, làm leo thang những sân hận, tạo cho ḿnh và những
người chung quanh trở nên khốn khổ hơn. Vậy, nếu phương pháp giải quyết
này không kết quả, chúng ta làm cách nào để đối mặt với nỗi khổ đau của
cuộc đời? Có một câu chuyện về vấn đề này.
Vào thưở xa xưa, có một người trai trẻ, mà cha của cậu là một nhà giáo
xuất sắc vào thời bấy giờ, ông rất được mọi người ngưỡng mộ và kính
trọng. Người trai trẻ này luôn được dạy dỗ bởi người cha bằng những lời
dạy đầy trí tuệ, cho nên anh ta nghĩ ḿnh đă học và biết hết tất cả
những ǵ ḿnh cần biết. Nhưng cha của anh lại nói, “Không, ta không thể
dạy cho con những ǵ con cần phải biết. Người mà ta muốn con đi gặp là
một vị thầy ở vùng quê, ông ta là một người mù chữ, và chỉ là một nông
phu.” Người trai trẻ này thật không vui vẽ với sự quyết định này, nhưng
anh vẫn ra đi theo lời người cha dặn bảo. Trên bước bộ hành một cách
miễn cưỡng, anh cuối cùng rồi cũng đến ngôi làng, nơi mà người nhà quê
này đang sống. Sự kiện xảy ra lúc đó là, người nông phu kia đang cưởi
ngựa về từ một cánh đồng khác và ông nh́n thấy người trai trẻ này đang
đi ngược chiều về hướng ông đang đi.
Khi người trai trẻ đến gần ông và cúi đầu chào ông, người thầy quê mùa
kia nh́n xuống và nói, “Chưa được.”
Ngay sau đó người trai kia qú gối xuống và cúi đầu chào ông lần nữa.
Thế nhưng người thầy mộc mạc kia lại vẫn nói, “Chưa được.” Người con
trai kia bèn qú xuống và cúi chào thấp ngang tầm gối ngựa, nhưng người
thầy khó tính kia vẫn chưa hài ḷng và vẫn nói, “Chưa được.” Cho nên
lần này, người trai trẻ kia qú xuống cúi chào một lần nữa và đầu anh
chạm vào móng chân ngựa. Người thầy nông phu kia mới nói với anh bạn
trẻ kia, “Anh có thể trở về được rồi. Anh đă dụng được những ǵ anh cần
phải học rồi.” Có thế thôi!
Cho nên chúng ta phải luôn ghi nhớ cái định nghĩa của từ “Khổ đau” cho
đến khi chúng ta cúi đầu xuống và mang mểnh, chịu đựng nỗi khổ đau của
cuộc đời — không phải là phản kháng nó, mà là hấp thụ nó và sống với nó
— chúng ta không thể thấy cuộc đời của ta là ǵ. Điều này không có
nghĩa là thụ động hay bị bó tay, mà là hành động từ quan điểm hoàn toàn
chấp nhận nó (ngay cả từ ngữ “chấp nhận” cũng chưa hoàn toàn đúng xác
nghĩa của trạng thái này) — nó chỉ là đơn giản thể nhập nỗi đau khổ. Nó
không phải là vấn đề bảo vệ ḿnh hay chấp nhận những thứ khác. Hoàn
toàn mở rộng, hoàn toàn dễ căm giác với đời, là (ngạc nhiên lắm phải
không) phương cách hoàn hảo nhất để sống cuộc đời chúng ta.
Dĩ nhiên, nếu bạn giống như tôi th́ bạn nên tránh xa nó càng lâu càng
tốt — bởi v́ đó là một vấn đề nói ra th́ dễ nhưng làm th́ rất ư là khó
muôn phần. Nhưng khi chúng ta làm, chúng ta biết được — từ tận cùng sâu
thẵm tâm hồn — chúng ta là ai và người khác là ai; những cách ngăn giữa
ta và người khác không c̣n nữa.
Sự tu tập suốt cuộc đời c̣n lại của chúng ta là vậy thôi: Bao giờ chúng
ta có những quan điểm hay nhận xét khắc khe về đời sống (bao gồm những
thứ này, loại bỏ những thứ kia.. ). Chúng ta có thể đă chấp chặc nó qua
nhiều thời gian (khó mà thay đổi trong thời gian ngắn), nhưng nếu chúng
ta chân thành tu tập, sự tu tập có thể làm lung lay cái quan điểm đă bắt
rễ đó; nó sẽ không c̣n đứng vững nữa. Khi chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi
cho quan điểm của ḿnh; chúng ta có thể cảm nhận sự lúng túng, đảo lộn,
khi chúng ta cố gắng bào chữa, khỏa lấp, rồi dần dần đi đến giai đoạn
thiết lập một nền tảng cho sự thấu hiểu mới để đưa vào đời sống của
ḿnh. Đó chính là phần lớn của quá tŕnh tu tập. Cuối cùng, chúng ta
trở nên sẳn ḷng để kinh nghiệm nỗi khổ đau của ḿnh thay v́ phản kháng
nó. Khi chúng ta làm được như vậy, quan điểm và nhân sinh quan về cuộc
sống dần dần xoay chiều. Rồi lần nữa, với nhân sinh quan mới chúng ta
sống với nó một thời gian, và sự tu tập vẫn tiến triển đều đặn — cho đến
khi một ṿng chu kỳ mới bắt đầu.
Rồi lần nữa những khó khăn mới lại phát sinh, và chúng ta lại phải vùng
vẫy, đi qua nó lần nữa. Cứ mỗi lần chúng ta trăi qua — là mỗi lần chúng
ta đi vào nỗi đau khổ và để cho nó hiện thân — nhân sinh quan của chúng
ta lại lớn ra hơn. Tương tự như là một cuộc leo núi. Ở mỗi vị thế
chúng ta leo lên tới chúng ta thấy nhiều hơn. Cái nh́n kia không có
khắc chế hay chống đối ǵ với những ǵ dưới kia — nó bao gồm tất cả —
nhưng nó càng nới rộng ra hơn với mỗi chu kỳ leo lên cao hơn, phấn đấu
hơn. Và chúng ta thấy càng nhiều, nhân sinh quan càng nới rộng, chúng
ta biết những ǵ cần phải làm, hành động nào nên có.
Nói chuyện với nhiều người, tôi nhận thấy rằng, điều quan trọng nhất mà
họ không hiểu là “khổ đau”. Dĩ nhiên tôi cũng không luôn luôn hiểu; tôi
cố gắng tránh xa nó mănh liệt hơn bất cứ ai khác nữa. Nhưng để có được
sự hiểu biết theo lư thuyết về khổ ra sao, và tu tập với nó bằng cách
nào, th́ là một vấn đề hữu ích vô cùng tận, đặc biệt nhất là trong những
kỳ tu học. Chúng ta có thể hiểu tốt hơn về khóa tu và thế nào là cách
áp dụng tốt nhất và thật sự tu tập.
Cái tâm tạo ra nỗi khổ không thật này, thường hay hoạt động liên tục
trong những khóa tu. Không một ai có thể ngoại lệ cho vấn đề này. Tôi
nhận ra tâm này vào đêm qua. Tôi có thể nghe tâm tôi phàn nàn: “Cái ǵ!
Lại một khóa tu khác? Ḿnh mới vừa hoàn tất một khóa vào cuối tuần rồi
mà!” Tâm của chúng ta hoạt động như thế đó. Rồi khi thấy được sự vô lư
đó, chúng ta tự nhắc nhỡ ḿnh, “Tôi thật sự muốn những ǵ cho bản thân
ḿnh hay cho người khác?” Sau đó tâm ta êm lặng xuống lại.
Cho nên khi chúng ta tọa thiền, chúng ta chối từ một cách kiên nhẫn sự
choáng ngợp của những tư tưởng này và quan niệm về bản thân; về sự việc;
về người khác; và chúng ta luôn luôn quay lưng với một sự thật:
Giây phút hiện tại. Làm như thế, sự tập trung và thiền định của
chúng ta liên tục tiến sâu hơn. Cho nên trong tọa thiền, lời tuyên bố
từ bỏ của đức Phật A Di Đà cũng là tu tập như là, ngoănh mặt quay lưng
từ những mộng tưởng của ḿnh, mơ ước cá nhân, để sống với sự thật trong
giây phút hiện tại. Trong khóa tu, mỗi phút giây mà chúng
ta tu tập đều như thế, nó cho ta những ǵ mà những đường lối khác không
thể cho ta, Tri thức hiện tiền về tự thân. Khi chúng ta đang đối diện
trực quán với phút giây hiện tại; cũng chính là lúc chúng ta đối diện
với nỗi khổ đau. Khi chúng ta thật sự sẳn ḷng chấp nhận sống chung với
nó, thể nhập với nó, th́ khi đó chúng ta biết những thứ khác là cái ǵ,
chúng ta là ǵ — mà không cần ai nói cho ta biết.
Đôi khi có người nói, “Thật là khó khăn quá.” Nhưng sự thật, không tu
tập ǵ cả th́ lại khó khăn hơn nhiều. Chúng ta thật ra đang tự dối lừa
ḿnh khi chúng ta không tu tập. Vậy hăy vui ḷng làm cho sáng tỏ, rơ
ràng với chính ḿnh về những ǵ chúng ta cần phải làm cho xong để chấm
dứt khổ đau; cũng từ tu tập với ḷng can đăm, chúng ta mới có thể giúp
người khác không c̣n sợ hăi và khổ đau. Chúng ta làm thế bằng một lối
tu tập trí tuệ, kiên nhẫn, vững bền. Chúng ta không bao giờ làm nó bằng
sự phàn nàn, cay đắng, sân hận của chúng ta. Tôi không phải có ư là
chúng ta phải đè nén chúng. Nếu chúng phát sinh, nhận biết chúng; bạn
không cần phản đàn áp chúng. Chỉ nhận thức rồi lập tức trở về với hơi
thở và thân của ḿnh ngay lập tức, chỉ ngồi thế thôi. Khi chúng ta làm
thế, không một ai trong chúng ta mà không nhận ra một phần thưởng từ tọa
thiền ở vào đoạn cuối của khóa tu.
Sự Từ bỏ (Buông xả)
Thiền sư Suzuki có nói, “Từ bỏ không phải là bỏ đi những ǵ trong cuộc
đời này, mà là chấp nhận rằng, chúng rời khỏi ta.” Mọi vật đều vô
thường; sớm hay muộn ǵ chúng cũng sẽ ra đi. Từ bỏ là một trạng thái của
tự tại, chấp nhận mọi sự ra đi. Thật ra Vô thường là tên khác của hoàn
mỹ. Lá cây rơi, mănh vụn và rác rến chồng chất; từ những đống vụn vỡ
xuất hiện hoa thơm, cỏ lạ, những thứ mà chúng ta nghĩ là đáng yêu
chuộng. Sự hủy diệt th́ cần thiết. Một trận cháy rừng th́ cần thiết.
Phương thức chúng ta cản trở những trận cháy rừng (do thiên nhiên) có
thể không phải là một điều tốt. Nếu không có sự hủy diệt th́ sẽ không
có đời sống mới; và những kỳ diệu cuộc đời, sự thay đổi không ngừng, có
thể không xảy ra. Chúng ta phải sống và rồi sẽ chết đi. Cái chu kỳ
này, tự thân nó, đă là một sự hoàn mỹ.
Tất cả những thay đổi này, bằng bất cứ cách nào, không phải là những ǵ
chúng ta có trong tâm. Động cơ làm cho chúng ta không đánh giá cao sự
hoàn mỹ của vũ trụ, là v́ tham vọng cá nhân muốn t́m một phương cách để
ǵn giữ những ǵ mà chúng ta cho là rực rỡ, huy hoàng sẽ măi măi ở lại
với ḿnh. Nghe qua th́ có vẽ là mắc tức cười, nhưng đó là những ǵ chúng
ta luôn đang làm. Sự kháng cự lại ḍng thay đổi th́ lại không thích hợp
với luật hoàn mỹ của thế gian — chính là tính chất vô thường. Nếu thế
gian không vô thường (luôn thay đổi) th́ nó không thể hoàn mỹ
như-nó-là. Mặc dù vậy, thứ cuối cùng chúng ta thích vẫn là tính vô
thường của chính ḿnh. Ai là người không trăi qua, một sợi tóc bạc màu
và nghĩ, “ố-ồ!” Cho nên, cuộc chiến lan rộng không ngừng trong lịch sử
sinh tồn của loài người. Chúng ta khước từ nh́n nhận sự thật xảy ra
chung quanh chúng ta. Chúng ta không thật sự thấy đời sống chút nào
cả. Mọi sự chú tâm của chúng ta th́ ở nơi khác. Chúng ta bị lôi cuốn
vào trận chiến không đoạn cuối với nỗi sợ hăi của ḿnh, cho ḿnh, và sự
tồn tại của ḿnh. Nếu chúng ta muốn nh́n thấy cuộc đời, chúng ta phải
lưu ư tới nó. Nhưng kỳ lạ thay, chúng ta không thích làm chuyện đó,
chúng ta chỉ hứng thú trong trận đấu tranh để bảo tồn chính ḿnh măi
măi. Dĩ nhiên nó là một trận đấu tranh đầy vẫy âu lo và vô hiệu quả, một
trận chiến không thể nào khả thắng. Người thắng luôn luôn là tử thần —
cánh tay phải của Vô thường.
Những ǵ chúng ta muốn từ đời sống mà chúng ta đang sống là, người khác
dàn xếp và ca ngợi cho sự vinh quang của ḿnh. Chúng ta muốn người bạn
đời bảo đăm sự an ninh của chúng ta, tạo cho chúng ta cảm giác tuyệt
vời, cho chúng ta những ǵ chúng ta muốn, có thế nỗi bồn chồn của ta có
thể lắng dịu trong thời gian ngắn. Chúng ta t́m bạn, mà những người ấy
ít nhất chia cắt đi một phần nỗi lo sợ của chúng ta, nỗi lo sợ mà chúng
ta không muốn có, dù chỉ một ngày. Chúng ta không muốn thấy nó. Điều
tức cười là, những người bạn của chúng ta không dễ bị chúng ta gạt gẫm;
họ thấy rơ ràng những ǵ chúng ta đang muốn từ họ. Tại sao họ lại thấy
rơ ràng thế? Bởi v́, họ cũng làm giống như chúng ta (cùng một mánh
khóe). Họ không hứng thú về cố gắng của chúng ta đang muốn trở thành
trung tâm vũ trụ. Nhưng chúng ta lại cứ dấy động chiến tranh không
ngừng nghĩ. Chúng ta luôn luôn bận rộn một cách hỗn loạn. Khi những
mưu đồ cá nhân để thắng trận chiến không có kết quả, chúng ta thữ t́m
ḥa b́nh trong chiêu bài của tôn giáo. Có người hứa rằng, phần thưởng
sẽ làm bạn trở nên giàu sang. Chúng ta đang cố vớt vát một người nào đó
nói với chúng ta, “Đừng lo, mọi việc sẽ trở nên tuyệt vời cho bạn.”
Ngay cả tu thiền, chúng ta cố gắng t́m một lối tắt để chúng ta có thể
đạt được một thắng lợi cá nhân.
Nhiều người thường hay nói với tôi, “Joko, tại sao bà lại làm cho sự tu
tập trở thành quá khó khăn thế? Tại sao bà không đưa ra một điều kỳ diệu
nào cả?” Nhưng từ quan điểm của cái Ngă hạn hẹp, tu tập chỉ có thể khó
khăn. Tu tập là dùng để tiêu diệt hoàn toàn cái Ngă nhỏ bé kia, và cái
Ngă kia biết thế nên nó không thích một tí nào cả. Nó không thể nào đón
chào sự tiêu diệt này với sự hoan hỉ. Cho nên không có ǵ là tuyệt diệu
cho cái Ngă nhỏ nhoi kia, ngoại trừ chúng ta muốn bị phĩnh phờ.
Bề mặt kia của sự tu tập th́ trái lại: Khi cái Ngă nhỏ bé — bao gồm sân
hận, tham vọng, phàn nàn, tráo trở, thao túng tự thân — bị tiêu diệt,
th́ điều kỳ diệu lại xuất hiện: lạc thú và ḷng tự tin chân chính. Chúng
ta bắt đầu hưởng được cái cảm giác quan tâm đến người khác mà không đ̣i
hỏi bất cứ ǵ đền trả. Đây là ḷng từ bi chân chánh. Chúng ta có được nó
bao nhiêu tùy thuộc vào mức độ cái Ngă nhỏ bé kia bị thu nhỏ bấy nhiêu.
Khi nó chết, vào lúc này hay khi khác, cũng là lúc chúng ta nh́n thấy
được cuộc sống là ǵ. Đôi khi, chúng ta có thể hành động một cách tự
nguyện và giúp đỡ người khác. Lúc t́nh trạng này tiến triển hơn, nó
cũng làm phát sinh ḷng hối hận, bởi v́ lúc ấy chúng ta nhận diện ra
rằng, chúng ta gần như mọi lúc gây tác hại cho bản thân và người khác.
Chúng ta ân hận và bản chất của sự ân hận này là niềm hân hoan trong
sạch.
Vậy chúng ta hăy nhận thức rằng, sự phấn đấu của chúng ta trong khóa tu
là để hoàn thiện bản thân: chúng ta muốn được giác ngộ, chúng ta muốn
sáng tỏ, chúng ta muốn trạng thái b́nh thản, chúng ta muốn trí tuệ.
Trong khi buổi tọa thiền của chúng ta đi dần vào phút giây hiện tại th́
ta lại nói, “Thật rơ là chán! những xe cộ chạy qua, hai gối của tôi đau
không chịu được, bụng của tôi đang gào thét…” Chúng ta không có hứng
thú với sự hoàn mỹ của vũ trụ vô hạn. Thật ra, sự hoàn mỹ của vũ trụ vô
biên có thể là người đang ngồi bên cạnh chúng ta, người mà đang thở một
cách ồ ề hay đang xuất hạn mồ hôi. Sự toàn mỹ chính là điều kiện không
thuận tiện này đây: “Tôi không có được những thuận lợi ǵ cả.” Ở vào
bất cứ phút giây nào, sự việc luôn xảy ra theo chiều hướng của nó.
Nhưng chúng ta lại không tiếp nhận như thế; chúng ta thấy nhàm chán.
Mọi chú tâm của chúng ta theo đuổi những thứ khác. “Bỏ qua cái sự thật
ǵ đó đi! Tôi đến đây để được giác ngộ thôi!”
Nhưng thiền là một pháp tu tập tế nhị: ngay cả khi chúng ta đấu tranh,
chống đối, bóp méo vấn đề, những khái niệm của chúng ta về vấn đề có
chiều hướng hũy diệt bản thân nó. Không cần biết chúng ta như thế nào,
dần dần chúng ta bắt đầu hứng khởi với những ǵ sự tu tập thật sự như
thế nào, nó trái ngược lại với ư tưởng của chúng ta đă có về cái phương
pháp mà chúng ta nghĩ nó nên ra sao. Cái tiêu điểm mấu chốt của tu tập
chính là khoảng thời gian va chạm của những tham vọng của ḿnh — về sự
đồi bại cá nhân, sự tự đề cao của ḿnh, ḷng ham muốn thao túng hoàn
cảnh của ḿnh. Khi giây phút này xảy ra thường xuyên trong đời sống của
chúng ta: là những phút giây khi chúng ta cảm thấy cau có, ganh tị,
khích động — sự va chạm giữa cách tôi muốn nó ra sao và cách nó xảy ra
như thế nào. “Tôi ghét cách thở ồn ào của cô ta. Làm sao tôi có thể
chánh niệm được về hiện tại khi cô ta làm thế?” “Tôi phải tu tập làm
sao khi những đứa trẻ hàng xóm đang chơi nhạc ầm ĩ?” Mỗi phút giây cho
chúng ta một cơ hội quí báu. Ngay cả trong những lúc êm lặng nhất — đến
mức như không có ǵ xảy ra cả trong ngày — chúng ta cũng vẫn có nhiều cơ
hội để nhận thấy sự va chạm giữ những ǵ ta muốn và những ǵ nó đang xảy
ra, khác ra sao.
Sự tu tập tốt luôn nhắm vào mục đích làm sáng tỏ những nhận thức sai lầm
của chúng ta, cho nên không có ǵ trong kinh nghiệm tâm-sinh lư của ta
là bí ẩn cả. Chúng ta không chỉ muốn hiểu biết cơn giận của ḿnh, mà
chúng ta c̣n cần phải biết phương cách riêng của ḿnh để đối diện nó.
Nếu một sự phản ứng phát sinh lúc không có chánh niệm, th́ chúng ta
không thể nào quan sát được cơn giận và nh́n thấy lúc nó ra đi. Mỗi một
phản ứng ngăn ngừa (và chúng ta có ít nhất một lần trong mỗi năm phút)
là thực hành. Nếu chúng ta thực hành với tư tưởng và cảm xúc, là những
cơ nguyên tạo thành sự phản ứng đó, th́ chúng ta có thể tiếp diện với
cái tuyệt đối hay sự thiêng liêng hay bạn muốn gọi là bất cứ tên ǵ bạn
muốn. Trong quá tŕnh tu tập đúng đắn chúng ta luôn luôn biến chuyển từ
thói quen tự ngă (bám víu vào phản ứng theo tiềm thức — bản năng) sang
hành động gần gũi với sự vận hành của vũ trụ; ḍng năng lượng (sự vận
hành) này thay đổi vũ trụ hàng triệu lần trong một giây. Trong đời sống
hiện tượng, những ǵ chúng ta thấy đều vô thường; ngoài ra th́ thuộc về
lănh vực khác; chúng ta sẽ không cho nó một cái tên. Khi chúng ta tiến
đều trong tu tập — chúng ta càng gần nguồn năng lực của vũ trụ hơn và sự
chết cũng mất đi sức chi phối.
Một chướng ngại vật to lớn cho sự thấy là thiếu hiểu biết rằng, tất cả
sự tu tập đều có những trở ngại to lớn của nó. Cái giới hạn của ḷng
miễn cưỡng sẽ vẫn c̣n tồn tại cho đến bao giờ cái tự ngă bị hoàn toàn
tiêu diệt. Chỉ có đức Phật mới không có sự đề kháng bên trong, và tôi
không nghĩ là trong loài người ngày nay có được bao nhiêu người. Cho
đến cuối cuộc đời, chúng ta luôn luôn có những sự đề kháng tự thân mà
chúng ta cần phải học biết.
Trở ngại to lớn thứ hai là thiếu trung thực về tự thân trong từng phút
giây (không luôn luôn đối diện với con người thật của ḿnh). Thật là
khó nh́n nhận, “Tôi đang bị quả báo,” hay là, “Tôi đang bị trừng phạt,”
hoặc là, “Tôi đang tự thị.” Loại trung thực này th́ rất khó làm. Chúng
ta không bao giờ muốn chia sẽ với người khác những ǵ chúng ta thấy về
bản thân ḿnh; nhưng không có điều ǵ xảy ra mà chúng ta không nên không
chú tâm. Chúng ta phải công nhận rằng, chúng ta luôn chạy đuổi theo lư
tưởng hoàn mỹ hơn là học biết sự bất toàn của chính ḿnh.
Trở ngại thứ ba chúng ta bao giờ cũng có là, chúng ta dễ bị ảnh hưởng
làm cho mất tâm tập trung khi đi đến một ngưỡng cửa (thấy cảnh giới)
trong một buổi tọa thiền. Chúng chỉ là những pháp hữu vi cũng giống như
những thiện pháp khác — nó không bền — không thật quan trọng ngoại trừ
chúng ta biết mang nó áp dụng vào đời sống của ḿnh.
Chướng ngại thứ tư là chúng ta có hiểu biết quá giới hạn về tiến tŕnh
tu tập mà chúng ta đang bắt tay vào. Chúng ta nghĩ là chỉ cần nổ lực
trong khoảng thời gian nào đó để hoàn thành vấn đề này như là xây xong
một căn nhà, hay học xong một chương tŕnh khoa học nào đó mà thôi. Cái
công việc mà chúng ta đang làm th́ không phải vô khả thi, mà cũng không
quá khó khăn, nhưng nó th́ không đoạn cuối.
Chướng ngại thứ năm là chúng ta không có đủ Chánh tín. Phần lớn những
người bỏ nhiều thời gian ở thiền viện th́ thay thế những buổi pháp
thoại, tham luận phật pháp, đọc ngữ lục và kinh điển, cho chính sự tu
tập. Chúng ta nói càng ít về tu tập th́ càng tốt hơn. Những buổi tŕnh
pháp là lúc duy nhất tôi nói về tu thiền. Và tôi không nói về Pháp. Tại
sao lại nói về nó? Việc làm của tôi là nhận biết ra tôi
vi phạm nó ra làm sao. Bậc cổ đức có nói, “Tri giả bất ngôn, ngôn giả
bất tri.” Có nghĩa là, “Người biết th́ không nói, c̣n người nói th́
không thật biết.” Khi chúng ta nói về sự tu tập trong mọi thời, sự đàm
luận của chúng ta cũng là một dạng của Chướng ngại cho sự tu tập của
ḿnh, đang được biện hộ bởi h́nh thức trao đổi và học hỏi. Nó giống như
là một nhà lư thuyết suông muốn cứu vớt nhân loại hằng đêm trong buổi ăn
tối. Họ chỉ nói, nói, và nói — nhưng những lời nói kia làm được những
ǵ? Đối cực lại với đó là mẹ Teresa. Tôi không nghĩ bà nói ǵ nhiều
bởi v́ bà bận rộn với việc đang làm.
Tu tập trí tuệ là luôn luôn làm việc với một điều chính: Nỗi sợ hăi ở
ngay trên cái nền của sự tồn tại nhân loại, sự sợ sệt là Tôi không là ǵ
cả. Dĩ nhiên tôi không là ǵ cả, nhưng đó là điều tối hậu tôi muốn
biết. Bản chất của tôi là vô thường trong thể nhân sinh thay đổi không
ngừng mà bề ngoài trông có vẽ thật. Tôi sợ thấy ra tôi là cái ǵ: chỉ
là một dạng năng lượng luôn thay đổi. Nhưng tôi không muốn như thế.
Cho nên, tu tập đúng là đối diện với sợ hăi. Sợ hăi có rất nhiều thể
dạng phát sinh từ sự suy tư liên tục, suy đoán, phân tích, tưởng tượng.
Với tất cả các hoạt động như thế, chúng ta tạo ra một vầng mây bao phủ
để bảo vệ an toàn cho tự thân qua sự tu tập giả vờ. Tu tập chân chính
th́ không an toàn chút nào cả; nó là tất cả những thứ khác ngoại trừ an
toàn. Nhưng chúng ta th́ không thích thế, cho nên chúng ta bị ám ảnh
với sự phấn đấu một cách bồn chồn của ḿnh để đạt đến cái viễn ảnh mơ
mộng cá nhân. Loại tu tập ám ảnh đó, tự nó cũng là một đám mây ngăn che
giữa chúng ta và sự thật. Điều quan trọng là thấy sự việc bằng lối nh́n
Vô ngă: nh́n sự việc như-nó-là. Khi những b́nh phong đang che đậy kia
bị rớt xuống rồi, th́ chúng ta cần ǵ phải đặt tên nó. Chúng ta chỉ cần
sống và kinh nghiệm nó (cuộc sống). Và khi chúng ta từ giả cơi đời này,
th́ chúng ta tự tại ra đi, không có một vấn đề ǵ cả.
Không sao cả.
Giác ngộ là phần cốt lơi của mọi tôn giáo. Nhưng chúng ta có cái nh́n
rất khác biệt về lănh vực này. Chúng ta đánh giá trạng thái giác ngộ
đồng dạng với cảnh giới thật là tĩnh tịch, tốt đẹp, hoàn mỹ, êm ă, thơa
măn. Nhưng nó không phải là thế.
Tôi sẽ đặt một số câu hỏi về trạng thái khó chịu rơ ràng. Tôi không có
nói rằng, đừng nên cố gắng ngăn ngừa những trạng thái này, đừng nên thay
đổi chúng. Tôi không có nói, chúng ta không nên có những cảm giác mạnh
hay ưa chuộng chúng. Tuy nhiên, từ những ví dụ này, chúng ta khởi đầu
cho vài manh mối; khi chúng ta có manh nha th́ chúng ta có thể thấy rơ
hơn những ǵ chúng ta đang làm trong tu tập. Những câu hỏi là:
Nếu có người cho tôi biết, “Joko, bà chỉ sống được một ngày nữa thôi.”
Tôi có chấp nhận được không? Hay nếu ai đó nói với bạn như thế, th́ bạn
sẽ chấp nhận ra sao?
Nếu tôi bị một tai nạn khốc liệt, và mất đi hai chân hay/và hai tay. Tôi
có chấp nhận được không? Nếu xảy ra cho bạn, bạn sẽ chấp nhận ra sao?
Nếu tôi sẽ không bao giờ c̣n nhận được những lời khuyến khích thân
thiện, tử tế của một người nào nữa. Tôi có chấp nhận được không?
Nếu v́ một lư do ǵ đó, tôi bị phải nằm liệt trên giường và bị cơn đau
hành hạ cho đến hết cuộc đời c̣n lại. Tôi có chấp nhận được không?
Nếu tôi làm một việc thật là ngu xuẩn trong một hoàn cảnh thật tệ hại.
Tôi có chấp nhận được không?
Nếu mối t́nh mà tôi luôn hằng mơ ước sẽ không bao giờ trở thành hiện
thực. Tôi có chấp nhận được không?
Nếu v́ một lư do nào đó, tôi không c̣n ǵ cả và trở thành một người hành
khất, không có đủ ăn và không nơi chốn ở. Tôi có chấp nhận được không?
C̣n bạn th́ sao?
Nếu tôi phải chia tay với những ǵ hay những người thân thương nhất của
tôi. Tôi có chấp nhận được không?
Bây giờ tôi không thể trả lời “Không sao cả” cho bất kỳ một câu hỏi
trên. Nếu bạn là người thành thật, tôi không nghĩ là bất cứ ai trong
chúng ta có thể trả lời như thế. Nhưng trả lời được “Không sao cả” là
một trạng thái chứng ngộ cao, nếu chúng ta hiểu được ư nghĩa ra sao về
một vấn đề ǵ như thể nào mà vẫn “Không sao cả.” Cho một điều
kiện trở nên “Không sao cả”, nó không có nghĩa là, tôi không kêu gào,
hay không than khóc, hay không phản đối, hay không căm ghét nó.
Hát ca và nhảy múa là âm giai của Pháp; và la hét cùng rên rĩ cũng là
cung điệu của Pháp. Cho những sự việc này trở nên “Không sao cả” đối
với tôi, không có nghĩa là, tôi sẽ vui mừng về chúng. Vậy, nếu nó như
thế th́ “Không sao cả” có nghĩa là ǵ? Trạng thái giác ngộ là ǵ? Khi
không c̣n sự phân cách tồn tại giữa bản thân và hoàn cảnh điều kiện
trong đời sống của chính ḿnh, bất kỳ nó có xảy ra thế nào, th́ hăy
như-nó-là.
Dĩ nhiên, tôi đưa ra một nhóm vấn đề theo chiều hướng đặt biệt khó chịu
cho chúng ta. Thay v́ tôi nên hỏi, “Nếu bạn phải nhận một tỉ đô la, bạn
có chấp nhận được không?” Và bạn có thể nói, “Vâng!” Nhưng để có một tỉ
đô la cũng cho thấy mức độ khó khăn tương đương như để trở thành một
người ăn mày. Trong mỗi trường hợp trên, câu hỏi là “Ta sẽ hành
xử ra sao để sống với hoàn cảnh mà đời sống mang đến cho ta?”
Đó không có nghĩa là một sự chấp nhận mù quáng. Nó không có nghĩa là,
nếu bạn bị bệnh, th́ bạn sẽ không tận hết khả năng để khang phục; nhưng
đôi khi, sự việc tiến triển không thể tránh khỏi th́ sao — có khi ta
hoàn toàn đành phải bó tay. Thế th́ đành vậy “Không sao cả” phải không?
Có lẽ bạn không tán đồng với quan điểm này mà tôi vừa mới đưa ra. Một
người mà có được trạng thái “Không sao cả” th́ không c̣n là một con
người nữa. Theo cách nói đó, th́ bạn rất là đúng; loại hành xử đó không
phải là con người b́nh thường nữa. Hoặc chúng ta có thể nói họ là con
người thật đúng nghĩa. Chúng ta có thể nói thế nào cũng được. Nhưng
một người không có ác cảm với hoàn cảnh và điều kiện chung quanh, th́
vốn không phải là lối hành xử dễ dàng ǵ, nhất là đối với loại người mà
chúng ta từng biết. Tôi có biết vài người gần như giống như vậy. Đây
là một trạng thái giác ngộ: trạng thái của một người, mà người đó có thể
cởi ḷng ra một cách chân thành, ôm lấy bất cứ biến chuyển cuộc đời, dù
cho là tốt hay xấu. Tôi không đang nói về một vị thánh; tôi đang nói về
một lănh vực (thường là đứng trước một thử thách to lớn) tự tại. Ví dụ,
chúng ta thường hay kinh ngạc về vấn đề chúng ta sẽ chết như thế nào.
Điểm trọng yếu là, không phải ta học làm sao để chết một cách can đảm,
mà là học: không cần chết một cách can đảm. Chúng ta có
thể nghĩ về nó trong một chừng mực nào đó, nhưng đa phần chúng ta mong
muốn trở thành một thứ ǵ đó chứ không phải là chính ta hiện tại. Có
một quan điểm thú vị thật sự là: Không nên học cách để lừa đảo những
hoàn cảnh khác nhau (có nghĩa là: trong hoàn cảnh này th́ làm cách này;
c̣n hoàn cảnh kia th́ làm cách kia, giống như là đă có kế hoạch trù định
sẵn trước), mà là học “Không cần một quan điểm nhất định nào cho một
hoàn cảnh tương ưng.”
Phần lớn những pháp trị liệu có dự định điều chỉnh những nhu cầu và mong
muốn của tôi cho tới của bạn, để thúc đẩy sự đồng cảm giữa chúng ta.
Nhưng giả sử tôi không có bất kỳ sự phản bác nào đối với những nhu cầu
và mong muốn của tôi hay của bạn — tất cả đều hài ḥa như nó là — th́
cái ǵ cần phải điều chỉnh đây? Bạn có thể muốn nói rằng, một người mà
có thể trả lời bất cứ câu hỏi trên với “Không sao cả!” là một người quái
đản. Tôi th́ không nghĩ như thế. Nếu bạn gặp một người như thế, bạn sẽ
không thấy có một điều ǵ là bất ổn cả. Bạn có thể cảm nhận ra một sự
b́nh lặng mênh mông phát ra từ con người này. Một người có rất ít tư
lợi, luôn hài ḷng với những ǵ trong hiện tại, với ḿnh, với mọi người
và mọi sự kiện chung quanh một cách chân thành. Bạn sẽ t́m thấy người
như thế rất ư là ḥa điệu và lân mẫn vào đúng những t́nh cảnh thích hợp,
hoặc không hoàn toàn đồng t́nh những lúc cần thiết phải như thế. Người
này biết sự khác biệt, biết phải làm ǵ, bởi v́ người đó sẽ là bạn.
Vậy tôi mong bạn suy nghĩ lại: những ǵ là căn bản cho bạn để có thể đáp
lại những điều kiện của cuộc sống bằng “Không sao! Tôi không phàn nàn ǵ
cả”? Đó không có nghĩa là bạn vĩnh viễn không c̣n đảo lộn nữa, mà là có
một nền tảng làm chổ dựa khi đối diện với mọi hiện tượng đổi thay trong
đời sống, và bạn vẫn có thể điềm tỉnh, “Không sao!” Những ǵ chúng ta
đang làm trong sự tu tập của ḿnh (dù cho bạn có biết hay không; hoặc là
bạn có muốn hay không) là học hỏi để biết cái nền tảng này, sự thật này,
để giúp cho chúng ta có thể nói đúng lúc: “Không sao!” Hoặc tương tự
như những lời cầu nguyện với đức Chúa trời: Ước muốn của người sẽ được
toại.
Một cách để đo lường sự thực hành của chúng ta là, nhận xét xem cảm nghĩ
của chúng ta có cởi mở nhiều hơn với đời sống ra sao. Dĩ nhiên, khi nó
th́ b́nh thường th́ chúng ta không có ǵ để nói, nhưng nó vẫn là sự tu
tập của chúng ta. Khi việc ǵ khả dĩ hài ḷng với ta, chúng ta chấp
nhận mọi thứ về nó; chúng ta chấp nhận sự phản kháng, sự đấu tranh, sự
bối rối của ḿnh; thật ra chúng ta không đi đến đâu được cả theo lối
nh́n sự việc của chúng ta như thế. Và đang lúc chúng ta vui ḷng về
những thứ ấy, th́ tất cả những phiền trược kia (đấu tranh, đau đớn, mơ
hồ) cũng vẫn đang tiếp tục diễn ra. Đây chính là cơ hội cho tu tập.
Trong khi chúng ta tọa thiền băng ngang qua nó, th́ sự hiểu biết tăng
dần hơn: “Đúng rồi! Tôi trăi qua những thứ này và tôi không thích chúng
— mong rằng tôi có thể vượt thoát khỏi — và rồi, nó cũng không đến đổi
tệ hại lắm.” Một bước tiến xa. Ví dụ: Bạn có thể sống hạnh phúc với
người bạn đời của bạn, và nghĩ, “À! người này đúng là người thích hợp
nhất cho tôi!” Th́nh ĺnh anh ấy hay cô ấy rời bỏ bạn; nỗi khổ đau sắt
nét phát sinh và kinh nghiệm khổ đau kia rồi cũng phôi pha đi. Suốt quá
tŕnh tu thiền, chúng ta xây đắp một con đường đi vào công án này,
nghịch lư này và dùng nó để chống đỡ đời sống. Chúng ta biết càng nhiều
về những ǵ xảy ra, th́ ngược lại chúng ta càng ghét cáu chúng bấy
nhiêu; và cũng chừng bấy nhiêu ấy chúng ta phải đấm đá với chúng — để đi
đến “Không sao cả!” Tôi đang làm cho sự tu tập trở nên khó khăn phải
không? Nhưng quả thật tu tập th́ thật là khó khăn. Lạ đời thay, những
người tu tập thế này lại là những người sống rất yêu đời giống như Zorba
the Greek. V́ không kỳ vọng ǵ từ đời sống nên họ có thể hưởng thụ nó.
Khi những cố sự xảy ra, đa phần người ta cho là rất thăm hại; những
người này có thể cũng vẫy vùng, tranh đấu và náo động, nhưng (có khác
nhiều người khác) họ vẫn có thể lạc quan — Không sao cả!
Trừ khi chúng ta hoàn toàn hiểu sai về tu thiền là ǵ, chúng ta càng cảm
thông nhiều hơn những khó khăn, mệt mơi và đau đớn, dù là chúng ta không
thấy thích chúng. Và cũng đừng quên những phút giây thần kỳ của khóa
tu: để rồi sự vui sướng và sự hiểu rơ giá trị của chúng ta có thể làm
cho chúng ta bàng hoàng sửng sốt. Đối với lối tu tập như thế, sự thặng
dư sẽ vung bồi cho Trí tuệ. Tôi th́ không hứng thú lắm về kinh nghiệm
chứng ngộ so với việc tăng trưởng thêm Trí tuệ trong tu tập. Bởi v́ khi
nó phát triển, cuộc đời của ta sẽ thay đổi một cách triệt để. Dù là, nó
có thể không đổi thay theo chiều hướng mà chúng ta mong muốn. Chúng ta
sẽ trưởng thành hơn trong sự hiểu biết và sự cảm kích về nét hoàn mỹ của
mỗi phút giây hiện tại trong đời sống: cơn tê đau ở gối và lưng, sự ngứa
ngáy nơi đầu mũi, sự xuất hạn. Chúng ta trầm tĩnh đủ để nói, “Không
sao!” Sự thần diệu của tọa thiền là sự cảm biết thần kỳ của sự hiểu rơ
giá trị “phút giây hiện tại.”
Thật là khó khăn cho tôi, nếu tôi không c̣n nghe nhận được những lời lẽ
chân t́nh và thân thương. Tôi có chấp nhận được chăng? Dĩ nhiên là
không, nhưng chính ǵ “không” đó mà tôi cần phải tu tập. Nếu tôi bị bắt
cóc ở một quốc gia hoang dă và bị giam vào ngục tối, th́ sự tu tập sẽ là
ǵ? Những sự kiện trầm trọng không thường xảy ra cho phần lớn của chúng
ta. Nhưng ở trong phạm vi hạn hẹp hơn, thiên tai th́ luôn xảy ra và
chúng ta có thể h́nh dung được đời sống của chúng ta có thể bị thay đổi
lớn hoặc hũy diệt hoàn toàn. Lúc ấy trên ngă rẽ cuộc đời chúng ta bắt
buộc phải lựa chọn cho ḿnh một hướng đi: một là chúng ta trực diện đối
mặt cùng thăm họa và biến nó thành sự tu tập cho chúng ta; hai là, chúng
ta thêm lần nữa trong cuộc đời, trốn chạy và không học được ǵ từ cố sự,
chỉ nối kết thêm cho những khó khăn ḿnh đă có trong quá khứ? Nếu chúng
ta muốn một cuộc sống ḥa b́nh và giá trị, chúng ta cần những ǵ? Chúng
ta cần có một khả năng (thứ này cần học chậm chạp và miễn
cưỡng) để kinh nghiệm cuộc sống của ḿnh như-nó-là. Trong mọi thời, tôi
không muốn làm vậy, và tôi tin rằng bạn cũng thế. Nhưng đó là những ǵ
mà chúng ta đến đây để học. Ngỡ ngàng thay, chúng ta đang học nó. Phần
lớn trong chúng ta th́ lạc quan hơn sau khi khóa tu kết thúc. Có thể là
“cuối cùng th́ cũng xong, mệt quá!” nhưng không chỉ có thế. Sau khóa tu
học, chỉ thả bước theo con đường cũng đủ nghe ḷng thanh thăn; nó không
thanh thăn trước khóa nhưng lại có cảm giác sau đó. Cái thái độ này có
thể không kéo dài. Ba ngày sau, chúng ta lại quay về đường ṃn của tâm
thức, đi t́m những giải đáp kế tiếp. Tuy vậy chúng ta có học một ít về
những điều bất ổn của lối t́m kiếm này. Càng kinh nghiệm nhiều hơn,
cuộc sống càng nới rộng với trạng thái “Không sao!”, chúng ta sẽ có ít
khuynh hướng lánh xa nó (cuộc đời và những hiện tượng tốt/xấu) hơn, để
mong cầu t́m một ảo ảnh của Chân, Thiện, Mỹ.
Thảm họa
Theo tự điển, Thảm họa là “một tác phẩm văn hoa hay nghệ thuật sân khấu
mô tả một nhân vật chính nào đó bị vướng mắc vào sự đấu tranh có tác
động lớn vào nền tảng đạo đức nhưng kết quả đi đến điêu tàn hay sự thất
vọng sâu xa.” Từ quan điểm thông thường này th́ “đời sống” là một thảm
họa — nhưng chúng ta lại bỏ phí cả cuộc đời ḿnh, cố gắng một cách tuyệt
vọng để lẫn trốn thảm họa (“đời sống”) này. Mỗi người chúng ta là nhân
vật chính của cái sân khấu nhỏ của ḿnh. Mỗi người chúng ta có cảm
tưởng là ḿnh đang đối diện với một cuộc đấu tranh đạo đức lớn lao. Thế
nhưng không một ai chịu nh́n nhận điều này — v́ cuộc chiến này sẽ kết
thúc đời ta trong điêu tàn và đổ nát không thể nào tránh được. Bên cạnh
những biến cố bất ngờ mà chúng ta đụng độ trong cuộc đời ḿnh, c̣n có
một “biến cố” ở cuối con đường đời mà không một ai có thể tránh khỏi.
Chúng ta đành chịu. Từ phút giây đời sống hữu vi bắt đầu nó đă đi dần
theo chiều hướng để đến điểm cuối cùng rồi. Theo quan điểm cá nhân th́
rơ ràng đây là một thảm họa. Cho nên, chúng ta đă hoang phí cuộc đời
ḿnh cho cuộc đấu tranh vô nghĩa là, cố gắng tránh cái kết cuộc đó.
Chính cuộc đấu tranh không đúng chỗ đó mới là một thảm họa thật sự.
Giả sử chúng ta sống gần đại dương, trong một vùng khí hậu ấm, nơi mà
chúng ta có thể tắm biển quanh năm, nhưng cũng nơi đó lại cũng là vùng
có nhiều cá mập. Nếu chúng ta là những người bơi lội thông minh, chúng
ta sẽ nghiên cứu xem nơi nào của băi biển là nơi mà cá mập thường hay
lai văng, rồi chúng ta tránh xa nơi ấy. Nhưng cá mập th́ luôn luôn là
cá mập (nhám nhúa và láo cá), sớm muộn ǵ một con trong đàn sẽ tản mạn
vào nơi ta hay bơi lội để thăm viếng chúng ta. Chúng ta th́ có bao giờ
ngờ là, nếu một con cá mập không chộp được ta th́ ngọn thủy triều vẫn có
thể. Chúng ta có thể đă bơi lội cả đời mà chưa từng gặp một con cá mập,
nhưng lo sợ về chúng th́ có thể làm những ngày bơi lội trở nên mất sinh
khí và vui tươi.
Mỗi người chúng ta đều h́nh dung ra được con cá mập trong cuộc đời của
chúng ta ở đâu, và chúng ta đă phí gần hết năng lực đời ḿnh để âu lo về
chúng. Thật hợp lư khi ta cẩn thận đối với những tai nạn vật lư; chúng
ta mua bảo hiểm, chúng ta cho con cái chích ngừa, chúng ta cố gắng giảm
bớt độ mở trong máu. Tuy thế, những sai số vẫn len lén đi vào tư tưởng
của chúng ta. Những dung sai đó là ǵ?
Sự khác biệt là ǵ giữa sự đề pḥng hợp lư và sự lo lắng liên miên, cho
tới nỗi đầu óc quay cuồng? Có một dụ ngôn trong kinh Phật: một người
đàn ông đang bị một con cọp rượt. Trong cơn tuyệt vọng, anh ta nhảy bổ
lên một vách đá của một cái hố to và chụp lấy một chùm vây leo. Trong
khi con cọp trên cao kia đang nhe móng vuốt muốn vói tới anh, nh́n xuống
dưới vách đá; hởi ôi! một con cọp khác (cọp đâu mà nhiều đến thế?) đang
ngẩn đầu chờ cho anh mơi mệt rồi buông tay. Trên kia bên bờ vách đá,
th́ lại có đang có hai con chuột tinh nghịch đang gặm ṃn dần chùm dây
leo mà anh ta đang bám víu. Trong giây phút chỉ mành treo chuông kia,
anh chợt thấy một chùm dâu (trông thật ngon) gần đó, anh một tay giữ lấy
chùm giây leo, c̣n tay kia với hái chùm dâu và ăn lấy nó. Chùm dâu thật
ngọn ngào làm sao! Rồi kết cuộc của người đàn ông kia ra sao? Dĩ nhiên
chúng ta cũng biết. Những ǵ xảy ra cho người ấy có là một thảm họa hay
không?
Nên nhớ rằng, người kia bị đuổi bắt bởi một con cọp, anh ta không phải
đang nằm đó và nói, “Ồ, tạo hóa thật đẹp tuyệt vời. Chúng ta là cùng
một thể, làm ơn ăn tôi đi.” Câu chuyện không nói về nét khờ khạo — mặc
dù ở một mức độ nào đó, người kia và con cọp là một (không phải sau khi
ăn anh ta xong!). Người kia đă cố gắng tự bảo vệ (bằng cách chạy và
nhảy xuống vách đá) với hết khả năng, cũng như tất cả chúng ta. Tuy
thế, nếu chúng ta ở trong t́nh trạng của người đàn ông kia, chúng ta
hoặc là hoang phí phút giây c̣n lại của đời ḿnh (để bồn chồn, hoảng sợ,
kêu cứu) hay là để hưởng thụ cái giá trị của nó (cái phút giây thời gian
đó chớ không phải chùm dâu!). Biết đâu mỗi phút giây không phải là phút
giây cuối cùng phải không? Không có phút giây nào khác hơn là phút giây
này.
Chăm sóc Tâm và Thân của ta là điều rất ư hợp lư; vấn đề phát sinh là
chúng ta áp đặt thêm vào nó một định danh độc đáo. Một vài cá nhân
trong lịch sử nhân loại xem cái mệnh danh tương tựa như là tất cả đời
sống trong vũ trụ này như chính là họ. Theo họ vốn không có thăm kịch,
bởi v́ theo họ không có kẻ thù hiện hữu. Nếu chúng ta và cuộc sống là
một — không cần biết là ai, là cái ǵ, hoặc nó làm ǵ — không là vai
chính, không là kẻ địch, không là bi kịch.. th́ chùm dâu kia có thể
thưởng thức được rồi.
Khi sự tu tập của chúng ta đều đặn, liên tục, có cường độ, chúng ta bắt
đầu cảm được những sai lệch về định danh của thân và tâm. Dĩ nhiên,
chúng ta thấy điều này ở nhiều mức độ khác nhau và có số người không
thấy ǵ cả. Nó không phải là khả năng lănh hội tri thức. Vật lư học
hiện đại làm sáng tỏ phương diện này là, chúng ta là “Một”, nghĩa là
chúng ta chỉ là một dạng khác của năng lượng mà thôi, và đó th́ không
khó khăn ǵ để thấu hiểu một cách tri thức. Nhưng là một nhân sinh với
tâm, thân, và cảm giác, chúng ta biết được bao nhiêu về những tế bào
trong cơ thể của chính ḿnh?
Khi những danh phù với tâm và thân của chúng ta nới rộng ra tới một mức
độ nào đó ta có thể thấy như-nó-là, chúng ta lúc đó sẽ trở nên cởi mở
hơn để nghĩ đến người khác, mặc dù chúng ta không hoàn toàn tán đồng với
họ, thậm chí chúng ta c̣n phải đối kháng lại với họ. Thay đổi thái độ
có thể bao gồm cả những quan điểm đối nghịch của người khác. Khi sự
việc xảy ra như thế, sẽ không c̣n một vai chính phản kháng lại kẻ địch.
Tu tập là để thấy sâu suốt hơn vào cái định danh hư cấu này, đây là một
căn bệnh khái niệm đă cưỡng chế mọi hành động của chúng ta từ bao đời.
Trong quá tŕnh tu thiền, chúng ta có một cơ hội quí giá để đối diện với
chính ḿnh, để thấy cái bản chất của tư duy sai lầm; do sự sai lầm này
đă tạo ra cái ảo tưởng của một cái Ngă riêng biệt.
Cái tâm xảo huyệt vô cùng tận của con người có thể hoạt động rất năng
động khi không gặp trở lực nào; nhưng dưới sự tấn công của thiền tập,
ngồi bất động trong nhiều giờ, tính lừa đảo và trốn tránh trách nhiệm
của tâm phải bị phơi bày rơ ràng. Sự căng thẳng được tạo ra bởi cái tâm
lừa đảo kia cũng bắt đầu bị ảnh hưởng. Sự kiện này kéo chúng ta về, để
nhận thức rằng không có ǵ bên ngoài ta đang công kích ta cả. Chúng ta
chỉ bị đột kích bởi tư tưởng của ḿnh, nhu cầu của ḿnh, luyến đắm của
ḿnh, tất cả đều được sinh ra từ cái định danh của chúng ta, với sự trợ
giúp của cái tư duy lệch lạch của chúng ta. Từ những hiện tượng này
thay phiên nhau tạo thành một cuộc sống gần như khốn khổ và tơi tả
(không trọn vẹn). Tọa thiền mỗi ngày, chúng ta có thể trốn tránh (ngoài
giờ ngồi) được sự nhật thức này, nhưng nếu chúng ta tu thiền tám giờ một
ngày th́ thật là khó mà trốn chạy được; càng tu tập càng nhiều th́ nó
càng khó hơn.
Khi chúng ta tu tập một cách kiên nhẫn (kinh nghiệm hơi thở của ḿnh,
chú tâm về quá tŕnh tư duy), sự nhận thức phát sinh, không phải theo lề
lối tri thức, mà là trong từng tế bào của bản thân. Tư tưởng lệch lạc
sẽ tan biến như làn mây trong sức nóng của mặt trời, và chúng ta t́m
thấy ở giữa nỗi đau khổ của chúng ta một sự cởi mở, khoảng trống và niềm
vui mà chúng ta chưa từng biết trước đây.
Có một lần một người khẳng định với tôi, “Những thứ đó vẫn không thể nào
giải quyết vấn đề của sự chết. Chúng ta vẫn phải chết.” Tất nhiên
chúng ta sẽ phải chết. Nhưng nếu trong một giây trước ngưỡng cửa tử thần
mà chúng ta có thể nói được, “Ồ! Chùm dâu thế mà lại thật ngon!” — như
vậy th́ đâu có vấn đề ǵ đâu. Nếu con cá mập ăn chúng ta, th́ con cá
mập có được một bữa ăn ngon. Rồi có lẽ trong lúc ấy người ngư phủ lại
đang lưới rập con cá mập. Từ quan điểm của con cá mập th́ đó là một
thảm họa, nhưng từ góc độ đời sống con người sao lại là không phải.
Tôi không đề xuất ra một tiêu chuẩn mới nào cho chúng ta theo đuổi.
Người đàn ông chạy trối chết từ nanh vuốt của con cọp, run rẩy trong sợ
hăi, hữu vi pháp. Chúng ta là ǵ cũng là hữu vi pháp. Vậy khi bạn tọa
thiền, và cũng như khi bạn đấu tranh, hay cảm thấy bất hạnh, hoặc là bối
rối, th́ hăy là vậy. Nếu bạn đang hạnh phúc, th́ hăy là vậy — nhưng
đừng bám víu vào nó. Có thế, mỗi phút giây th́ chỉ ḥa nhập với những ǵ của phút
giây đó là. Với lối tu tập kiên nhẫn như thế, chúng ta thấy ra cái t́nh
trạng sai lệch của định danh cá biệt của ḿnh buộc chặt lấy với thân và
tâm ta; chúng ta bắt đầu hiểu biết.
Thảm họa luôn luôn cần đến một vai chính bị lôi cuốn vào một cuộc tranh
đấu. Nhưng chúng ta không bắt buộc phải là nhân vật chính, đang bị
vương vấn vào một cuộc tranh đấu không lối thoát bằng vũ lực bên ngoài
chúng ta. Sự phân tranh là do sự diễn dịch của chính chúng ta, chấm dứt
trong hoang tàn chỉ khi nào chúng ta nh́n nó theo chiều hướng đó. Trong
Tâm Kinh có nói, “Vô vô minh diệc vô vô minh tận. Năi chí vô lăo tử diệc
vô lăo tử tận. Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vô trí diệc vô đắc.” Người đàn
ông bị cọp rượt kia cuối cùng rồi cũng bị cọp ăn thịt (dĩ nhiên là con
chờ phía dưới kia). “Không sao cả.” Nhứt thiết hữu vi pháp đều không
bền vững…
Tâm quan sát
“Ai
đó?” Trời hỏi. “Tôi đây.”
“Đi chỗ khác đi.” Trời nói. Một chút sau…
“Ai đó?” Trời hỏi. “Là Ông.”
“Vào đi.” Trời trả lời.
Cái mà chúng ta thường hay nghĩ về như một cái “Ta” th́ có nhiều h́nh
thái. Có cái Tâm suy nghĩ, cái Tâm cảm xúc, cái Tâm hoạt động dùng để
làm việc. Gồm lại tất cả để tạo nên một cái “Ta” khả năng diễn tả của
chúng ta. Không có điều ǵ trong phạm trù này mà chúng ta không thể mô
tả. Ví dụ, chúng ta miêu tả chức năng vật lư của ḿnh như là: đi tản
bộ, về nhà, ngồi xuống. Về cảm xúc: chúng ta có thể thường hay diễn đạt
t́nh trạng chúng ta cảm thấy thế nào; khi chúng ta kích động hay giận
dữ, chúng ta có thể nói rằng cảm xúc của ta đang dâng cao, tột đỉnh, và
hạ xuống theo cường độ. Và chúng ta cũng có thể diễn tả tư tưởng của
ḿnh. Những khía cạnh của cái “Ta” đó là những tác nhân quan trọng nhất
của đời sống chúng ta: Một bản Ngă có thể suy nghĩ, cảm xúc, và hành
động.
Có một khía cạnh khác của cái Ngă là, chúng ta từ từ tiếp xúc với nó khi
chúng ta tu thiền: Tâm quan sát. Nó rất quan trọng đối với vài phương
pháp trị liệu Tây phương. Thật ra, khi xử dụng đúng cách th́ những pháp
trị liệu kia có kết quả. Nhưng những phương thức trị liệu này không
nhận ra sự khác biệt gốc rễ giữa Tâm quan sát và những tâm kia, hoặc họ
không hiểu hết đặt tính của những khía cạnh tâm này. Tất cả những phần
có khả năng diễn tả th́ rất là hạn chế. Những nét đặt trưng mà họ biết
cũng rất là trực tuyến; đến và đi theo phạm trù thời gian. Nhưng tâm
quan sát không thể áp đặt trong cách xếp loại đó, không cần biết chúng
ta thử bằng cách nào. Tâm quan sát không thể t́m và không thể diễn tả.
Nếu chúng ta t́m kiếm nó, sẽ không thấy ǵ hết. V́ không có thấy ǵ hết
nên chúng ta khó có thể khả dĩ biết về nó, chúng ta có thể nói, nó nằm
trên là một tọa trục khác.
Trong tu tập, chúng ta quan sát — hoặc gom tâm — càng nhiều càng tốt về
cái tâm có khả năng diễn đạt của ḿnh. Những pháp trị liệu làm tương tự
như thế nhưng chỉ ở một chừng mực nào đó thôi; c̣n tu thiền th́ tiếp tục
trong nhiều năm, vun đắp cái tâm quan sát triệt để hơn so với những pháp
trị liệu kia. Trong khi chúng ta tu thiền, chúng ta phải quan sát
chúng ta làm việc như thế nào, chúng ta ân ái như thế nào, chúng ta như
thế nào khi dự buổi họp mặt, chúng ta như thế nào trong những hoàn cảnh
khác biệt với những người xa lạ.
Không có
ǵ về bản tâm và thân có thể bỏ xót dưới sự khảo sát tường tận.
Đó không có nghĩa là chúng ta phải đ́nh chỉ tất cả những hoạt động b́nh
thường khác. Ngay cả khi chúng ta hoàn toàn bị cuốn hút trong cuộc sống
hàng ngày, quá tŕnh quan sát vẫn tiếp tục. Bất cứ lănh vực nào về ta
mà không được quan sát th́ vẫn c̣n ở trong điều kiện không rơ ràng, mơ
hồ, bí ẩn. Nó (những ǵ không lọt vào trong tầm sự quán sát của ta)
th́ chừng như c̣n độc lập từ ta, giống như nó có thể vận hành theo chiều
hướng riêng của nó. Bao giờ chúng ta bị rơi và mắc kẹt vào tầm hoạt
động của nó, nó sẽ mang chúng ta đi sâu vào vùng không gian tăm tối.
Ở một lúc này hay vào khi khác, tất cả chúng ta bị đưa vào tầm hoạt động
của một cơn giận nào đó. (Cơn giận này có thể là sự bực tức, ganh tị,
phiền muộn, hay là sự chán nản.) Trong nhiều năm tu thiền, chúng ta dần
dần khám phá ra cái cấu thể của cơn giận và những tư tưởng cảm xúc
khác. Trong một giai đoạn của cơn giận, chúng ta cần phải biết tất cả
những tư tưởng liên quan đến sự kiện. Những tư tưởng này th́ không thật
nhưng chúng có ràng buộc với những cảm giác, sự cảm xúc của những biến
chuyển vật lư (căng bắp thịt, co gân) của thân. Chúng ta cần phải quan
sát nơi mà các bắp thịt co rút và nơi nào th́ không. Một số người cơn
giận thể hiện trêm mặt, một số th́ căng cứng phía sau lưng, lại có người
th́ phản ứng khắp toàn thân. Biết càng nhiều chi tiết — khả năng quan
sát mạnh — th́ những bí ẩn về cảm giác ít đi, và chúng ta ít bị chúng
khống chế.
Có vài phương pháp để thực hành. Một là dùng sự tập trung hoàn toàn
(thường hay dùng phổ biến trong các trung tâm thiền), như là ta nhận một
công án, tham nó với mọi nỗ lực để phá nó. Theo phương pháp này, những
ǵ chúng ta thật sự làm là, đàn áp những tư tưởng và cảm xúc không cho
nó có cơ hội khởi sinh. V́ chúng không là thật, chúng ta giả sử rằng,
không hại ǵ khi đàn áp chúng. Và đúng như thế, nếu chúng ta kiên tŕ
và khán thoại đầu đủ lâu, chúng ta đôi khi có thể đột phá Vô minh mà đập
tan cái Ngă. Một phương pháp khác là chúng ta áp dụng ở đây, một cách
chậm chậm, mở rộng thân và tâm ra với sự kỳ diệu của cuộc đời bằng cách
lưu ư tỉ mỉ tới bản chất của phút giây hiện tại. Từ từ chúng ta trở nên
điêu luyện và hiểu biết nhiều, để rồi chúng ta có thể bắt gặp các hiện
tượng ở lúc nó khởi sinh. Ví dụ như, chúng ta nhận thức được ngay, khi
chúng ta không thích một người nào đó, th́ ta bệu mép trái của ḿnh.
Theo pháp tu này, mọi hiện tượng trong đời sống — sự kiện tốt lẫn xấu,
cơn khích động, sự nản ḷng, nỗi thất vọng, cơn bực bội của chính ḿnh —
đều trở thành lúa cho cái máy xay. Chứ không phải là chúng ta đi lục
lạo những mâu thuẫn và vấn đề; những thiền sinh vững chăi th́ rất hoan
nghênh chúng, bởi v́ chúng ta có thể học rất nhiều kinh nghiệm từ chúng,
khi bản chất của chúng được sáng tỏ, tự do và ḷng bi mẫn sẽ tăng trưởng
hơn.
Pháp thứ ba là thay thế những tư tưởng không tốt bằng những tư tưởng
thiện lành (theo tôi th́ đường lối này không mang lại kết quả cao.) Ví
dụ như: nếu chúng ta đang giận điều ǵ, chúng ta nên dừng lại và nghĩ
đến một t́nh cảm tốt đẹp của đối tượng hay của một hiện tượng khác. Với
điều kiện thay đổi có thể giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng
phương pháp này khó mà chịu nỗi sức ép của cuộc đời, và tráo đổi một
điều kiện với một điều kiện tốt hơn chỉ là một h́nh thức tránh né, chúng
ta bỏ lỡ cơ hội tu tập. Điểm mấu chốt là, không phải cảm giác thiện th́
tốt hơn cảm giác bất thiện, mà là tất cả tư tưởng và cảm giác đều Vô
thường, thay đổi, và không thật (theo giáo pháp). Chúng không thật có
trên bất kỳ góc độ nào. Trạng thái tự tại của chúng ta có được bằng sự
hiểu biết được tích lũy qua nhiều năm quan sát và kinh nghiệm những tư
tưởng và cảm giác tự ngă (và tác nhân khởi sinh chúng) là trống không.
Chúng không có thực chất; nhưng nếu chúng ta không thấy được bản chất
không thật của chúng (cho chúng là thật) th́ chúng trở nên tai hại cho
chính ḿnh. Khi chúng ta nhận biết được điều này, chúng ta có thể từ bỏ
chúng. Làm được như thế, tự nhiên chúng ta đi vào được phạm trù siêu
thế.
Phạm trù siêu thế gian — thiên đường hay tịnh độ — mở ra khi chúng ta
không c̣n bị vướng chấp trong Tự ngă: khi không c̣n là “Tôi đây,” mà là
“Là anh”, hay “Là ngài.” Tôi là tất cả khi không c̣n sự ngăn cách. Đây
là đời sống của ḷng Từ Bi chân chính và không một ai sống được với nó
trong mọi thời. Trong lối tu tập với cái nh́n chằm chằm, th́ trong lúc
chúng ta đối diện người khác mà cũng vừa thực dụng, đó cũng chính là lúc
chúng ta có thể bỏ một bên những tư tưởng, t́nh cảm để thật sự nh́n vào
đôi mắt người khác, chúng ta nhận ra một trạng thái Vô ngă. Chúng ta
thấy sự diệu kỳ, và chúng ta thấy ra người này cũng là chính ḿnh. Đây
là liều trị liệu phi thường, nhất là cho mối quan hệ của loài người, cho
những ai thiếu thiện cảm với nhau. Chúng ta thấy trong một giây phút
những ǵ về người kia là: họ Vô ngă cũng như chúng ta, tất cả chúng ta
là sự kỳ diệu.
Trong một khóa tu học ở nhiều năm trước, tôi có thực tập lối nh́n mắt
với một người đàn bà trẻ, bà nói cuộc đời của bà trở nên sụp đổ sau cái
chết của người cha. Bà nói rằng, không có việc ǵ bà có thể làm khả dĩ
mang lại sự b́nh yên qua sự mất mát kia. Trong sáu-mươi phút, chúng tôi
nh́n vào mắt nhau. Nhờ vào sự tu tập, tôi có đủ khả năng giữ cho cái
nh́n của tôi vững và không gián đoạn một cách dễ dàng. Khi bà bị dao
động th́ tôi có thể kéo bà trở về. Ở giai đoạn chót bà bật khóc. Tôi
ngạc nhiên về cái ǵ sai, nhưng bà nói, “Cha tôi thật ra không mất! Tôi
đâu có mất ông. Không sao, tôi t́m thấy sự b́nh an cho ḿnh rồi.” Bà đă
thấy bà là ai và cha của bà là ai. Cha của bà không phải là cái thân
xác đă chết đi. Trong sự kỳ diệu, bà đă biết chấp nhận.
Chúng ta có thể tu tập quan sát ḿnh khi bắt đầu lên cơn giận: tư tưởng
phát sinh, thân thể biến chuyển, nhiệt độ và sức căng thay đổi. Thường
thường chúng ta không thấy cái ǵ xảy ra bởi v́ khi chúng ta đang giận,
chúng ta đồng hóa ḿnh với khát vọng cho ḿnh là “đúng” của ḿnh.
Thành thật mà nói, chúng ta không c̣n hứng thú ǵ với tu tập trong lúc
này. Nó thật là nông nổi trong khi giận dữ; và khi cơn giận lên cao
chúng ta thấy rằng, thật là khó khăn mà tu tập với nó. Lợi ích của Tu
tập là có kết quả với những cơn giận thông thường xảy ra trong mọi ngày;
khi chúng ta thực tập với chúng mỗi khi chúng phát sinh, chúng ta học
hỏi; để rồi khi cơn giận lớn hơn ập đến, mà thường hay dồn dập chúng ta
một cách phũ phàng, th́ chúng ta có thể ít bị choáng ngợp hơn. Rồi theo
thời gian, chúng ta có thể bị nó thao túng ít đi, ít đi.
Có một công án cũ về một vị sư, người đi đến thầy của ḿnh và nói, “Tôi
là người rất dễ giận, thầy từ bi giúp cho con.” Người thầy nói, “Đem
cái giận của ông ra cho tôi xem.” Vị sư kia nói, “A! Bây giờ th́ con
đâu có giận. Con làm sao có thể chỉ nó cho thầy.” Người thầy nói, “Vậy
rơ ràng nó không phải là ông, v́ đôi khi nó không có ở đó.” Chúng
ta là người có nhiều mặt, nhưng nhiều mặt này lại không phải là chúng
ta.
Có người hỏi tôi, “Quan sát có là lối tu tập nhị biên không? Bởi v́ khi
chúng ta quan sát th́ có cái quan sát và cái bị quan sát.” Thật ra th́
nó không phải nhị nguyên. Vai quan sát th́ Không. Thay v́ có một quan
sát viên, chúng ta nên nói là chỉ có sự quan sát. Không
có người nghe, mà chỉ có sự nghe. Không có người thấy mà chỉ có sự
thấy. Nhưng chúng ta không hoàn toàn bắt được vấn đề đó. Nếu chúng ta
thực hành đúng mức, bất kể ra sao, chúng ta học được là,
không những chỉ là người quan sát th́ Không, mà đối tượng bị quan sát
cũng Không. Đến giai đoạn này, người quan sát (hay là chứng nhân) sẽ bị phân
hóa. Đây là giai đoạn cuối cùng của sự tu tập; chúng ta không cần lo về
cái này. Tại sao người quan sát cuối cùng bị sụp đổ? Khi rỗng không
nh́n thấy rỗng không, th́ chúng ta có ǵ? Chỉ là sự kỳ diệu của cuộc
đời. Con người và hiện tượng không c̣n phân cách nữa; chỉ có thực chất
của đời sống (ḍng trôi chảy cuộc đời): nghe, chạm, thấy, ngửi, suy tư.
Chỉ có t́nh thương và ḷng bi mẫn: không phải “Tôi đây” mà là “Là
Anh.”
Thế cho nên, phương pháp mà tôi nhận thấy có hiệu quả nhất là phương
pháp giúp tăng thêm sức mạnh quan sát. Bất cứ khi nào chúng ta giận dữ
th́ chúng ta mất khả năng đó. Chúng ta không thể giận dữ nếu chúng ta
đang quan sát, bởi v́
người nhân chứng đúng nghĩa th́ không bao giờ bị lôi cuốn vào sự kiện
đang xảy ra. “Rỗng không” cũng không thể giận dữ. Vậy nếu chúng ta có thể là
chứng nhân, chúng ta xem bất cứ vở kịch nào với sự chú ư và đồng t́nh,
nhưng không thể giận dữ. Tôi chưa gặp được một người nào có thể quan
sát trọn vẹn trong mọi thời cả. Nhưng có sự khác biệt lớn lao giữa một
người có thể quan sát phần lớn thời gian và một người ít khi quan sát.
Mục đích của sự tu tập là tăng thêm khoảng trống khách quan. Mặc dù, nó
nghe hấp dẫn — giống như pháp tu thiền th́ nghe hấp dẫn — nhưng nó không
tạo ra người hấp dẫn. Hoàn toàn trái ngược. Khi chúng ta đến giai đoạn
mà chứng nhân bị phân hóa, chúng ta bắt đầu biết đời sống là ǵ. Nó
không phải là một điều đáng sợ, ngược lại, nó có nghĩa là, khi tôi nh́n
vào một người, tôi chỉ nh́n thôi; tôi không có cộng thêm mười-ngàn tư
tưởng vào “cái tôi đang thấy”. Đó là không gian của ḷng bi mẫn. Chúng
ta không phải cố gắng t́m kiếm nó. Đó là thật tánh của chúng ta khi cái
Ngă vắng bóng.
Chúng ta thường hay ở vào trong trạng thái không tự nhiên. Với tất cả
những khó khăn trong đời sống, chúng ta có cơ hội nhận diện bản tâm mà
không loài sinh vật nào khác có được. Con mèo là một kỳ quan của cuộc
đời, nhưng chính con mèo đâu biết được điều đó, nó chỉ sống vậy thôi.
Nhưng loài người th́ chúng ta có khả năng nhận biết được điều đó. Theo
sự hiểu biết của tôi, chúng ta chỉ là sinh vật duy nhất trên mặt quả địa
cầu này có khả năng này thôi. Có được khả năng — có thể gọi là thiên
phú — chúng ta nên cảm kích vô tận rằng chúng ta có cơ hội để nhận thức
đời sống là ǵ và chúng ta là ai.
Cho nên chúng ta cần phải có kiên nhẫn — không chỉ trong khóa tu mà là
mỗi ngày trong cuộc sống — để đối diện với những vấn đề thử thách: quan
sát một cách tỉ mỉ tất cả khía cạnh của đời ḿnh, để có thể thấy bản
chất của nó, cho đến khi người quan sát thấy không c̣n ǵ nữa, ngoại trừ
chỉ c̣n lại đời sống như-nó-là, th́ tất cả mọi điều đều là kỳ diệu. Tất
cả chúng ta đều có phút giây như vậy. Sau khóa tu, chúng ta có thể ngắm
nh́n cành hoa trong giây phút mà không bị định kiến bóp méo. Sự tu tập
của chúng ta mở cửa ra và đưa ta đến gần với đời sống của ḿnh hơn. Đó
là những ǵ mà chúng ta hiện hữu trên cơi đời này để làm. Tất cả những
kỷ luật tôn giáo căn bản đều nói giống như nhau: người, vật, sự kiện,
đèn, cỏ, con đường, tôi và tất cả những thứ khác đều là Một. Trong khi
chúng ta tu tập, chúng ta từ từ nới rộng sự nhận thức này.
Khóa tu là nơi huấn luyện. Tôi chỉ hứng thú về những ǵ các bạn sẽ làm
khi bạn t́m thấy ḿnh đang trong cơn khủng hoảng, trong hai tuần lễ kể
từ bây giờ. Khi ấy bạn sẽ hiểu cách nào để tu tập hay không? Quan sát
tư tưởng của bạn, kinh nghiện bản thân, thay v́ bị những suy nghĩ lo âu
mang bạn đi lang bạt, hăy cảm nhận sự co thắt cơ bắp nơi bụng ḿnh, đứng
vững ngay giữa cơn khủng hoảng. Những ǵ tạo cho đời sống trở nên đáng
sợ chính là v́, chúng ta thả trôi tự thân ḥa trộn trong những rác rến
đang bị lôi cuốn trong luồng lốc xoáy. Chúng ta vốn không phải làm thế.
Hăy tọa thiền vững vàng.

|